
Một trong những nghiên cứu đáng chú ý là đề tài “Nội dung và phương thức hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam sau 40 năm đổi mới (HPN.BO.01/24)”. Không dừng lại ở việc tổng hợp các chặng đường phát triển, đề tài đi sâu phân tích sự thay đổi về chức năng, phương thức hoạt động của tổ chức Hội trong bối cảnh mới. Các kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ những yêu cầu đặt ra đối với tổ chức Hội khi xã hội có nhiều biến chuyển, từ đó đề xuất định hướng điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời gian tới. Đề tài được hội đồng thẩm định đánh giá xếp loại Xuất sắc.
PGS.TS. Trần Quang Tiến – Chủ nhiệm đề tại đại diện nhóm nghiên cứu Học viện Phụ nữ Việt Nam trình bày tóm lược nội dung đề tài khoa học cấp Bộ về 40 năm đổi mới hoạt động Hội LHPN Việt Nam trước hội đồng
Song song với đó, đề tài liên quan đến Dự án 8 – “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em (2021–2025) và đánh giá việc thực hiện bình đẳng giới trong Chương trình mục tiêu quốc gia vùng dân tộc thiểu số và miền núi” – cho thấy rõ cách tiếp cận gắn với thực tiễn địa bàn. Nghiên cứu tập trung vào nhóm phụ nữ và trẻ em tại các khu vực còn nhiều khó khăn, nơi mà các chính sách cần được theo dõi, đánh giá một cách sát sao. Thông qua việc thu thập dữ liệu và phân tích thực trạng, đề tài đã chỉ ra những kết quả đạt được cũng như các hạn chế trong quá trình triển khai, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách trong giai đoạn tiếp theo.
Ở một hướng tiếp cận khác, đề tài “Tổng quan nghiên cứu về công tác phụ nữ và bình đẳng giới giai đoạn 2015–2025, xây dựng bộ số liệu phục vụ định hướng nhiệm kỳ 2026–2031” lại tập trung vào việc hệ thống hóa tri thức và xây dựng nền tảng dữ liệu. Trong bối cảnh việc ra quyết định ngày càng cần dựa trên bằng chứng, việc hình thành một bộ dữ liệu đầy đủ, có hệ thống về phụ nữ và giới mang ý nghĩa quan trọng. Kết quả của đề tài không chỉ phục vụ nghiên cứu mà còn có thể hỗ trợ các cơ quan quản lý trong việc xây dựng và điều chỉnh chính sách.
Hai đề tài còn lại thể hiện rõ sự quan tâm của Học viện đối với chuyển đổi số. Đề tài “Phát huy vai trò của người mẹ trong giáo dục con cái thích ứng với chuyển đổi số (HPN.BO.01/25)” tiếp cận vấn đề từ góc độ gia đình, nhấn mạnh vai trò của người mẹ trong việc định hướng, hỗ trợ con cái trước những thay đổi nhanh chóng của môi trường số. Trong khi đó, đề tài “Nâng cao năng lực số cho cán bộ Hội LHPN Việt Nam (HPN.BO.02/25)” lại tập trung vào yếu tố con người trong hệ thống tổ chức, hướng tới việc trang bị kỹ năng và năng lực cần thiết để đội ngũ cán bộ có thể đáp ứng yêu cầu công việc trong bối cảnh mới. Đề tài được hội đồng thẩm định thông qua và đánh giá cao về tính ứng dụng.
TS. Nguyễn Đức Toàn – Chủ nhiệm đề tại đại diện nhóm nghiên cứu Học viện Phụ nữ Việt Nam trình bày trình bày tóm lược nội dung đề tài “Nâng cao năng lực số cho cán bộ Hội LHPN Việt Nam (HPN.BO.02/25)” trước hội đồng thẩm định
Điểm chung của các đề tài cấp Bộ là đều có sự kết nối chặt chẽ giữa nghiên cứu và thực tiễn. Các vấn đề được lựa chọn không mang tính lý thuyết đơn thuần mà xuất phát từ nhu cầu cụ thể của công tác quản lý, từ hoạt động của tổ chức Hội đến việc triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia hay yêu cầu chuyển đổi số. Chính vì vậy, các kết quả nghiên cứu không chỉ dừng lại ở giá trị học thuật mà còn có khả năng ứng dụng trong thực tế.

Thông qua việc triển khai các đề tài này, Học viện Phụ nữ Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò là cơ sở nghiên cứu có năng lực tham gia vào quá trình tư vấn chính sách trong lĩnh vực phụ nữ và bình đẳng giới. Các nghiên cứu đã góp phần cung cấp luận cứ khoa học, hỗ trợ việc xây dựng các chương trình, kế hoạch phù hợp với bối cảnh phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh khoa học công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng, việc tập trung đầu tư cho các đề tài có tính ứng dụng cao cho thấy định hướng rõ ràng của Học viện. Không chỉ phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học còn trở thành cầu nối giữa nhà trường với xã hội, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đóng góp thiết thực cho sự phát triển chung.
English