Với định hướng đào tạo theo hướng ứng dụng, lấy người học làm trung tâm và gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu với thực tiễn, Học viện Phụ nữ Việt Nam luôn chú trọng nâng cao chất lượng tuyển sinh trình độ thạc sĩ. Mỗi mùa tuyển sinh không chỉ là quá trình lựa chọn những ứng viên đáp ứng điều kiện dự tuyển mà còn là dịp để Học viện đánh giá năng lực nghiên cứu, tư duy khoa học và định hướng phát triển nghề nghiệp của người học thông qua các bài luận chuyên ngành.
Vừa qua, Học viện Phụ nữ Việt Nam đã tổ chức xét tuyển trình độ thạc sĩ ngành Kinh tế, ngành Công tác xã hội. Thực tế cho thấy, các đề cương dự tuyển đợt 1 năm 2026 đã phản ánh rõ nét xu hướng nghiên cứu hiện đại, tập trung vào những vấn đề đang đặt ra trong quản trị, kinh tế và đời sống xã hội, đồng thời thể hiện khả năng vận dụng kiến thức chuyên môn để giải quyết các bài toán thực tiễn.
Đề cương nghiên cứu – bước khởi đầu của hành trình học thuật
Theo quy định tuyển sinh, bên cạnh việc đáp ứng các điều kiện về trình độ và hồ sơ, thí sinh dự tuyển trình độ thạc sĩ tại Học viện Phụ nữ Việt Nam phải xây dựng bài luận chuyên ngành thể hiện năng lực nghiên cứu, khả năng tư duy độc lập cũng như định hướng phát triển trong quá trình học tập.
Đây không đơn thuần là một yêu cầu trong hồ sơ dự tuyển mà còn là căn cứ quan trọng để Hội đồng tuyển sinh đánh giá tính phù hợp của ứng viên với chương trình đào tạo. Từ đề cương nghiên cứu, Hội đồng có thể xem xét khả năng phát hiện vấn đề, phương pháp tiếp cận, tính mới, tính khả thi và giá trị ứng dụng của hướng nghiên cứu.
Qua quá trình trao đổi học thuật, các thành viên Hội đồng cũng góp ý để người học hoàn thiện ý tưởng nghiên cứu ngay từ đầu, tạo tiền đề cho việc triển khai luận văn sau này.
Hướng nghiên cứu kinh tế gắn với những vấn đề thời sự
Qua các đề cương dự tuyển ngành Kinh tế học, có thể nhận thấy hầu hết các nghiên cứu đều lựa chọn những vấn đề đang được quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam.
Một trong những hướng nghiên cứu nổi bật là “Phân tích tác động của các biến số kinh tế vĩ mô đến sự dịch chuyển dòng vốn giữa thị trường bất động sản và chứng khoán tại Việt Nam – Góc nhìn từ nhà đầu tư cá nhân“. Đề tài tiếp cận mối quan hệ giữa các chỉ số kinh tế vĩ mô với quyết định phân bổ dòng vốn của nhà đầu tư, qua đó góp phần lý giải xu hướng dịch chuyển vốn trên hai thị trường quan trọng của nền kinh tế.
Một đề tài khác tập trung vào “Phân tích các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh tế của các dự án đầu tư của doanh nghiệp: Nghiên cứu điển hình tại dự án Ocean Park 1 của Tập đoàn Vingroup“. Hướng nghiên cứu này không chỉ đánh giá hiệu quả đầu tư mà còn hướng tới đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng quản trị dự án và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Trong lĩnh vực bất động sản, đề tài “Phân tích các nhân tố tác động đến giá cả nhà ở thương mại tại Hà Nội trong bối cảnh hiện nay: Nghiên cứu đối với các sản phẩm của Tập đoàn Sun Group” phản ánh mối quan tâm đến diễn biến thị trường nhà ở, các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị bất động sản cũng như xu hướng phát triển của thị trường trong giai đoạn mới.
Các hướng nghiên cứu trên đều xuất phát từ những vấn đề thực tiễn của nền kinh tế, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho hoạt động quản lý, đầu tư và hoạch định chính sách.
Công tác xã hội – nghiên cứu vì con người và cộng đồng
Nếu các đề tài thuộc ngành Kinh tế học tập trung vào bài toán phát triển kinh tế thì các đề cương dự tuyển ngành Công tác xã hội lại hướng mạnh đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội, chăm lo cho các nhóm yếu thế và thúc đẩy phát triển cộng đồng.
Nhiều đề tài lựa chọn nghiên cứu về công tác xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số, cải cách hành chính và đổi mới phương thức cung cấp dịch vụ công. 
Tiêu biểu là đề tài “Đánh giá hiệu quả hoạt động công tác xã hội tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường An Tường, tỉnh Tuyên Quang trong bối cảnh cải cách hành chính và chuyển đổi số“, hướng tới đánh giá vai trò của công tác xã hội trong nâng cao chất lượng phục vụ người dân.
Trong lĩnh vực giáo dục, nhiều đề tài quan tâm đến học sinh trung học cơ sở thông qua nghiên cứu “Ứng dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm trong tổ chức các chuyên đề sân trường nhằm nâng cao kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở” và “Ứng dụng phương pháp Công tác xã hội trong việc hỗ trợ, phòng ngừa và can thiệp các vấn đề tâm lý – hành vi cho học sinh cấp trung học cơ sở“.
Đối với nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, các đề tài như “Công tác xã hội trong hỗ trợ phát triển kỹ năng sống cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Làng Trẻ em Birla“, “Ứng dụng phương pháp Công tác xã hội cá nhân trong phát triển kỹ năng xã hội cho trẻ tự kỷ tại Trung tâm Nắng Mai” hay “Ứng dụng phương pháp Công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ trẻ em di cư cùng cha mẹ đến nơi làm việc tiếp cận các dịch vụ xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số” đều thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống và khả năng hòa nhập của trẻ em.
Một số đề tài khác tập trung vào nhóm người có công với cách mạng và các chính sách an sinh xã hội như “Ứng dụng phương pháp Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ tiếp cận chính sách và chăm sóc đời sống tinh thần cho người có công với cách mạng và bảo trợ xã hội tại cấp cơ sở“.
Đặc biệt, đề tài “Đánh giá hiệu quả thực hiện Đề án ‘Tuyên truyền, giáo dục, vận động, hỗ trợ phụ nữ tham gia giải quyết một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ’ giai đoạn II (Đề án 938)” tiếp cận trực tiếp một chương trình lớn của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, hướng tới đánh giá hiệu quả triển khai và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện trong giai đoạn tiếp theo.
Các hướng nghiên cứu cho thấy người học không chỉ quan tâm đến lý luận mà còn hướng tới giải quyết các vấn đề cụ thể của cộng đồng, góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội.
Khẳng định định hướng đào tạo ứng dụng
Có thể thấy, dù thuộc lĩnh vực kinh tế hay công tác xã hội, điểm chung của các đề cương dự tuyển là đều xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn. Đây cũng là triết lý đào tạo mà Học viện Phụ nữ Việt Nam kiên trì theo đuổi trong nhiều năm qua.
Chương trình đào tạo thạc sĩ của Học viện được xây dựng theo định hướng ứng dụng, khuyến khích người học lựa chọn những vấn đề nảy sinh từ chính cơ quan, doanh nghiệp hoặc địa phương nơi công tác để nghiên cứu. Quá trình học tập không chỉ giúp nâng cao trình độ chuyên môn mà còn trang bị phương pháp nghiên cứu khoa học, tư duy phản biện và năng lực đề xuất giải pháp.
Bên cạnh chương trình đào tạo hiện đại, Học viện còn sở hữu đội ngũ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ có trình độ chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm nghiên cứu và tư vấn chính sách. Người học được tham gia các hội thảo khoa học, diễn đàn học thuật, hoạt động nghiên cứu trong và ngoài Học viện, qua đó mở rộng tư duy và nâng cao năng lực chuyên môn.
Chất lượng đào tạo sau đại học được quyết định bởi nhiều yếu tố, trong đó tuyển sinh là khâu đầu tiên và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc xây dựng quy trình xét tuyển nghiêm túc, đánh giá kỹ lưỡng các đề cương nghiên cứu ngay từ đầu đã góp phần bảo đảm chất lượng đầu vào, tạo nền tảng cho những luận văn có giá trị khoa học và thực tiễn.
Thông qua các đề cương dự tuyển năm 2026, có thể thấy Học viện Phụ nữ Việt Nam đang thu hút người học đến từ nhiều cơ quan, doanh nghiệp và tổ chức với những hướng nghiên cứu đa dạng, cập nhật xu thế phát triển của xã hội và nền kinh tế.
Đó cũng là minh chứng cho uy tín và sức hấp dẫn của chương trình đào tạo thạc sĩ tại Học viện – nơi người học không chỉ được trang bị tri thức chuyên sâu mà còn được đồng hành trong hành trình nghiên cứu, đổi mới và sáng tạo để tạo ra những giá trị thiết thực cho cộng đồng, doanh nghiệp và đất nước.
English