Thông tin chi tiết của Quy chế quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ của Học viện Phụ nữ Việt Nam mời bạn đọc xem TẠI ĐÂY
Quy chế được xây dựng trên cơ sở cập nhật các quy định pháp luật mới, đặc biệt là Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 và Nghị định số 17/2023/NĐ-CP, đồng thời chuẩn hóa toàn bộ quy trình nhận diện, xác lập quyền, quản lý, bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ hình thành trong quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác của Học viện.
Một trong những nội dung quan trọng của Quy chế là xác định rõ phạm vi đối tượng áp dụng và quyền sở hữu đối với các loại tài sản trí tuệ. Theo đó, Quy chế áp dụng đối với toàn thể cán bộ, giảng viên, viên chức, người lao động, người học (bao gồm sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh) cùng các tổ chức, cá nhân có hoạt động hợp tác nghiên cứu với Học viện.
Đối với các kết quả nghiên cứu khoa học, giáo trình, bài giảng, bài báo, phần mềm, ứng dụng, cơ sở dữ liệu, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, logo và các tài sản trí tuệ khác được tạo ra từ nguồn ngân sách hoặc các nguồn lực do Học viện quản lý, quyền sở hữu thuộc về Học viện Phụ nữ Việt Nam.
Các tác phẩm học thuật của giảng viên, viên chức và người học vẫn được bảo đảm quyền công bố, xuất bản với việc ghi rõ tên cơ quan là Học viện Phụ nữ Việt Nam; Học viện đồng thời được quyền sử dụng miễn phí, không độc quyền các tác phẩm này phục vụ hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và quản lý. Đối với luận văn, luận án và các sản phẩm học thuật do người học thực hiện, người học được đồng sở hữu; riêng các kết quả nghiên cứu thuộc đề tài hoặc dự án sử dụng đáng kể nguồn lực của Học viện sẽ thuộc quyền sở hữu của Học viện theo quy định.
Quy chế cũng đưa ra cơ chế phân chia lợi ích minh bạch đối với hoạt động thương mại hóa tài sản trí tuệ. Đối với giáo trình, sách và tài liệu xuất bản (áp dụng từ lần xuất bản thứ 301 trở đi khi phát sinh lợi nhuận), tác giả hoặc nhóm tác giả được hưởng 10% nhuận bút tính trên giá bìa nhân với số lượng in; trong đó chủ biên nhận 20% và phần còn lại được phân chia cho các tác giả theo quy định. Đồng thời, 10% được trích cho đơn vị trung gian (Thư viện), 10% dành cho công tác quản lý; phần lợi nhuận còn lại được phân bổ theo nguyên tắc 50% tái đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và 50% bổ sung quỹ phúc lợi, khen thưởng của Học viện.
Đối với các sản phẩm từ đề tài, dự án khoa học và các tài sản trí tuệ khác, tác giả hoặc nhóm tác giả được hưởng tối thiểu 30% lợi nhuận thu được. Sau khi trích 10% cho đơn vị trung gian và 10% cho đơn vị quản lý, phần lợi nhuận còn lại tiếp tục được phân chia theo tỷ lệ 50% đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học và 50% bổ sung quỹ phúc lợi, khen thưởng. Cơ chế này vừa bảo đảm quyền lợi của các tác giả, vừa tạo nguồn lực để Học viện tiếp tục đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

Bên cạnh đó, Quy chế gắn công tác quản lý sở hữu trí tuệ với quá trình chuyển đổi số trong toàn Học viện. Theo quy định, Phòng Hợp tác Quốc tế và Quản lý Khoa học là đơn vị đầu mối thông báo, tiếp nhận hồ sơ đăng ký sở hữu trí tuệ định kỳ vào Quý I hằng năm. Cán bộ, giảng viên và người học có trách nhiệm chủ động khai báo các tài sản trí tuệ mới phát sinh trên Cổng chuyển đổi số về Khoa học và Công nghệ của Học viện. Viện Công nghệ thông tin chịu trách nhiệm vận hành hệ thống, bảo đảm an toàn dữ liệu, sao lưu và bảo mật cơ sở dữ liệu sở hữu trí tuệ trên môi trường số.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể sáng tạo, Quy chế cũng quy định rõ các hành vi vi phạm liên quan đến quyền tác giả, quyền đối với nhãn hiệu, logo của Học viện, bí mật kinh doanh, dữ liệu nghiên cứu cũng như các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, các cá nhân, đơn vị sẽ bị áp dụng các hình thức xử lý từ nhắc nhở, thu hồi quyền truy cập hệ thống, xử lý kỷ luật nội bộ đến xử lý theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Học viện có chính sách khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân có tài sản trí tuệ mang lại giá trị thương mại lớn, từ 100 triệu đồng trở lên.
Việc ban hành Quy chế quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ năm 2025 là dấu mốc quan trọng trong quá trình hoàn thiện cơ chế quản trị tài sản trí tuệ của Học viện Phụ nữ Việt Nam. Quy chế không chỉ góp phần xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo mà còn tạo động lực để cán bộ, giảng viên, nhà khoa học và người học tích cực sáng tạo, nâng cao giá trị các sản phẩm khoa học, từng bước thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đóng góp vào sự phát triển bền vững của Học viện trong giai đoạn chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
English