Nếu như trước đây nghiên cứu sinh viên thường tập trung vào các vấn đề lý thuyết chuyên ngành thì nay các đề tài đã mở rộng sang nhiều lĩnh vực mang tính thời sự như trí tuệ nhân tạo, deepfake, sức khỏe tinh thần, bình đẳng giới, truyền thông số, tiêu dùng xanh hay kinh tế tuần hoàn.
Một trong những nhóm đề tài nổi bật năm nay là nghiên cứu về sức khỏe tinh thần và tâm lý xã hội. Đây cũng là nhóm có số lượng đề tài lớn trong khối Khoa học xã hội và Dịch vụ xã hội.
Đề tài “Các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi trì hoãn học tập của sinh viên Học viện Phụ nữ Việt Nam” của nhóm Nguyễn Ngọc Linh, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Phương Anh giành giải Nhất khối ngành khi phân tích sâu các yếu tố tâm lý tác động tới việc trì hoãn học tập của sinh viên.

Bên cạnh đó là nhiều nghiên cứu phản ánh các vấn đề đáng quan tâm của giới trẻ hiện nay như “Thực trạng hành vi tự hại của học sinh THPT tại Hà Nội” của nhóm An Thu Hương, Hà Hương Thùy, Ngô Thị Hải Anh; “Thực trạng căng thẳng tâm lý trong tìm kiếm việc làm của sinh viên năm cuối Học viện Phụ nữ Việt Nam” của nhóm Nguyễn Thị Nhật Lan, Lâm Thị Hồng Hạnh, Đào Trà My; hay “Hành vi sử dụng thiết bị điện tử trước khi ngủ và định hướng can thiệp công tác xã hội cho sinh viên Học viện Phụ nữ Việt Nam” của nhóm Nguyễn Thu Trang, Lưu Thị Kim Yến, Nguyễn Thị Diệu Linh.
Theo các giảng viên, việc sinh viên lựa chọn các chủ đề này cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn đối với sức khỏe tinh thần trong môi trường học đường và đời sống hiện đại.
Các nghiên cứu về giới và bình đẳng giới tiếp tục là điểm nhấn đặc trưng của sinh viên Học viện Phụ nữ Việt Nam. Nhiều đề tài khai thác những chủ đề còn khá mới như “Thực trạng phiền muộn giới của sinh viên chuyển giới và phi nhị nguyên giới tại một số trường đại học tại Hà Nội” của nhóm Hoàng Ngọc Linh, Nguyễn Phương Anh, Dương Huệ Lâm hay “Tiếp nhận chuẩn mực giới của sinh viên Học viện Phụ nữ Việt Nam” của nhóm Dương Ngọc Linh, Đặng Thị Minh Anh. Ngoài ý nghĩa học thuật, các nghiên cứu này còn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về đa dạng giới, bình đẳng giới và quyền tiếp cận dịch vụ xã hội.
Ở nhóm Công nghệ thông tin và Báo chí – Truyền thông, sinh viên cho thấy khả năng bắt nhịp nhanh với xu hướng công nghệ mới.
Tiêu biểu là đề tài đạt giải Nhất “Nghiên cứu ứng dụng ESP32 vào việc giám sát môi trường trong không gian nhà ở thành phố trên nền tảng IoT” của nhóm Nguyễn Hồng Lê, Nguyễn Thị Mai Chi, Nguyễn Đức Thịnh. Đề tài hướng tới giải pháp giám sát môi trường sống thông minh trong đô thị.

Ngoài ra còn có các nghiên cứu như “Xây dựng website thi thử online dùng cho các học phần thi trắc nghiệm tại Học viện Phụ nữ Việt Nam” của nhóm Thường Tố Uyên, Nguyễn Khánh Huy, Lê Văn Đạt Hưng hay “Thiết kế và xây dựng prototype hệ thống hỗ trợ tự đánh giá điểm rèn luyện cho sinh viên” của nhóm Khuất Thu Tâm, Nguyễn Huy Hoàng, Phạm Thị Quỳnh Mai.
Trong lĩnh vực truyền thông số, sinh viên tập trung nghiên cứu tác động của mạng xã hội và nền tảng số đối với giới trẻ hiện nay.
Đề tài “Nghệ thuật kể chuyện trong truyền thông số” của nhóm Bùi Thị Tuyết Nhung, Trần Thị Trang Nhung nghiên cứu hai kênh TikTok “Chuyện Nhà Linh Bí” và “Khoai Lang Thang”, qua đó phân tích xu hướng kể chuyện mới trong môi trường số.

Trong khi đó, đề tài “Thông điệp truyền thông về bình đẳng giới trên Facebook và tác động tới nhận thức của sinh viên Học viện Phụ nữ Việt Nam” của nhóm Hoàng Thị Hồng, Lữ Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Lý cho thấy vai trò ngày càng lớn của mạng xã hội trong định hình nhận thức giới.
Nhóm đề tài về kinh tế, kinh doanh và du lịch phản ánh rõ xu hướng chuyển đổi số và thay đổi hành vi tiêu dùng hiện nay.
Đề tài đạt giải Nhất “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng xanh của Gen Z tại địa bàn thành phố Hà Nội” của nhóm Lê Thanh Phong, Trần Nguyễn Yến Chi, Trần Khánh Linh cho thấy sự quan tâm của sinh viên đối với phát triển bền vững và lối sống xanh.

Nhiều nghiên cứu khác khai thác trực tiếp các xu hướng tiêu dùng trên nền tảng số như “Nghiên cứu hành vi mua hàng trực tuyến sản phẩm gốm sứ truyền thống Bát Tràng của thế hệ Gen Z Hà Nội trên nền tảng thương mại điện tử TikTok” của nhóm Hà Hoàng Lan, Nguyễn Thị Mai Anh hay “Ảnh hưởng của hiệu ứng FOMO tới hành vi chốt đơn qua livestream” của nhóm Vi Thị Mỹ Lệ, Tạ Thị Mỹ Phượng, Nguyễn Bách Diệp.

Hoặc đề tài “Đánh giá mức độ sẵn sàng và chấp nhận ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) của nhân viên bộ phận ẩm thực tại khách sạn Novotel Thái Hà” của nhóm Hoàng Xuân Anh, Đỗ Thị Diễm Quỳnh cho thấy sinh viên đã bắt đầu tiếp cận các xu hướng AI trong lĩnh vực dịch vụ – du lịch.
Ở khối Pháp luật, nhiều đề tài được đánh giá cao bởi tính thời sự và khả năng cập nhật nhanh với những biến đổi của xã hội số.
Đề tài đạt giải Nhất “Pháp luật về quản lý sản xuất rác thải nhựa trong phát triển kinh tế tuần hoàn” của nhóm Nguyễn Thị Ngọc Châu, Phạm Hoàng Phương Anh tiếp cận vấn đề môi trường dưới góc nhìn pháp lý và phát triển bền vững.

Trong khi đó, nhiều đề tài tập trung vào trí tuệ nhân tạo và các vấn đề pháp lý mới như “Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với các sản phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra” của nhóm Trần Thu Huyền, Dương Minh Hiếu; “Pháp luật về quyền đối với hình ảnh cá nhân được tạo bởi trí tuệ nhân tạo” của nhóm Võ Thị Anh Thảo, Nguyễn Thị Thạo, Nguyễn Thị Huyền Trang; hay “Trách nhiệm hình sự đối với hành vi sử dụng deepfake nhằm vu khống, xúc phạm danh dự người khác” của nhóm Phạm Thị Như Quỳnh, Nguyễn Hà My.
Theo đánh giá từ Học viện, các đề tài năm nay cho thấy khả năng nghiên cứu của sinh viên ngày càng có chiều sâu hơn về phương pháp tiếp cận, tư duy phân tích và khả năng ứng dụng thực tiễn. Nhiều nghiên cứu không còn bó hẹp trong phạm vi một chuyên ngành mà có sự giao thoa giữa tâm lý học, công nghệ, truyền thông, pháp luật và kinh tế. Xu hướng liên ngành này phản ánh sự thay đổi trong tư duy nghiên cứu của sinh viên trước những vấn đề phức hợp của xã hội hiện đại.
Từ sức khỏe tinh thần, bình đẳng giới đến trí tuệ nhân tạo và kinh tế số, các đề tài nghiên cứu năm học 2025–2026 cho thấy sinh viên Học viện Phụ nữ Việt Nam đang từng bước tiếp cận khoa học bằng tinh thần nhập cuộc, tư duy phản biện và mong muốn tạo ra giá trị thực tiễn cho cộng đồng.
English