Nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế không chỉ là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học mà còn phản ánh năng lực nghiên cứu, khả năng hội nhập và mức độ lan tỏa tri thức của đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên.
Theo thống kê từ DANH MỤC SẢN PHẨM KHOA HỌC QUỐC TẾ NĂM HỌC 2025–2026, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên Học viện đã công bố 56 sản phẩm khoa học quốc tế, gồm 43 bài báo trên các tạp chí khoa học quốc tế, 05 bài trong kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế và 08 sách, chương sách xuất bản bởi các nhà xuất bản quốc tế. Đây là những con số cho thấy sự phát triển liên tục của hoạt động nghiên cứu khoa học theo hướng hội nhập, đồng thời phản ánh sự nỗ lực bền bỉ của đội ngũ cán bộ khoa học trong việc nâng cao chất lượng công bố, mở rộng hợp tác nghiên cứu và từng bước khẳng định dấu ấn học thuật của Học viện trên các diễn đàn khoa học quốc tế.

Điểm nổi bật của các công bố quốc tế năm học 2025–2026 là phạm vi nghiên cứu ngày càng đa dạng, bao quát nhiều lĩnh vực đào tạo của Học viện như giới và phát triển, công tác xã hội, luật, quản trị kinh doanh, kinh tế, tâm lý học, giáo dục, truyền thông, du lịch, công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Nhiều công trình không chỉ tiếp cận các vấn đề mang tính học thuật mà còn hướng đến giải quyết những yêu cầu thực tiễn của Việt Nam trong bối cảnh phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Ở lĩnh vực giới và phát triển, các nhà khoa học của Học viện tiếp tục phát huy thế mạnh nghiên cứu với nhiều công trình được công bố trên các tạp chí quốc tế. Tiêu biểu là bài báo “Traditional social networks of Vietnamese people: Structure, operational mechanism and transformation in the digital context” của TS. Lê Thị Kim Dung, Nguyễn Thị Thái Lan và Cù Nguyễn Thùy Linh, đăng trên Anthropological Researches and Studies, góp phần làm rõ sự biến đổi của các mạng lưới xã hội truyền thống của người Việt trong bối cảnh chuyển đổi số. Tiếp đó là bài “The Relationship Between Children’s Internet Use and Parent-Child Communication Within the Family in Hanoi, Vietnam“, cũng có sự tham gia của TS. Lê Thị Kim Dung, tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa việc sử dụng Internet của trẻ em và giao tiếp trong gia đình.
Các nghiên cứu về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ tiếp tục được mở rộng với bài “Communicating about gender equality: Lessons learned from Vietnam” của TS. Lại Thị Hải Bình, hay “Awareness of Women’s Decision-Making Power in the Household“ của PGS.TS. Dương Kim Anh, góp phần cung cấp thêm các bằng chứng khoa học phục vụ hoạch định chính sách và thúc đẩy bình đẳng giới tại Việt Nam.
Trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh, nhiều công trình tập trung vào chuyển đổi số, phát triển doanh nghiệp và đổi mới sáng tạo. Có thể kể đến bài “Digital Transformation in Vietnamese SMEs: Challenges, Opportunities, and Strategic Implications” của TS. Bùi Xuân Chung; bài “The benefits of formalization for household business in Vietnam: The moderating role of the owner’s gender” của TS. Trịnh Ngọc Trúc đăng trên Finance Research Letters; hay nghiên cứu “Participation in digital social networking for women’s economic empowerment: only when it enhances social capital?” của TS. Nguyễn Hùng Cường, góp phần làm rõ vai trò của mạng xã hội số trong tăng cường quyền năng kinh tế của phụ nữ.

Lĩnh vực du lịch và phát triển bền vững cũng ghi nhận nhiều công trình có giá trị thực tiễn. TS. Phạm Thị Nhạn công bố hai bài báo quốc tế gồm “Women’s Participation in Community-Based Tourism Development: Evidence from Thai Nguyen Province, Vietnam” và “Current Situation of Innovation Activities in Women-Owned Tourism Enterprises in Northern Vietnam“, tập trung phân tích vai trò của phụ nữ trong phát triển du lịch cộng đồng và đổi mới sáng tạo tại các doanh nghiệp du lịch do phụ nữ làm chủ. Trong khi đó, TS. Phạm Thị Hạnh có nhiều công bố về du lịch bền vững, môi trường và chuyển đổi số như “Emerging workation tourism in Vietnam: A socio-economic impact analysis“, “Ensuring environmental security and sustainable tourism development in urban heritage spaces: A legal and practical analysis of gender roles in Hanoi’s Old Quarter” và nghiên cứu về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa.
Ở lĩnh vực giáo dục, tâm lý học và công tác xã hội, nhiều công trình đã tiếp cận những vấn đề đang được xã hội quan tâm như phát triển năng lực giáo viên, sức khỏe tâm thần, phòng chống bạo lực học đường và hỗ trợ các nhóm yếu thế. Các nghiên cứu như “Development and validation of a competence measurement scale for digital experiential learning in child sexual abuse prevention education for student teachers“, “Enhancing empathy in secondary teachers: Implications for initial teacher education in Vietnam“, “How can social work prevent dating violence and support healthy relationships? Evidence from Vietnamese university students” hay “Social Work Activities Supporting Patients at Hospitals in Nghe An, Vietnam” đã góp phần bổ sung những luận cứ khoa học có giá trị cho hoạt động đào tạo và thực hành nghề nghiệp.
Bên cạnh các bài báo quốc tế, năm học 2025–2026 còn ghi nhận 05 công bố trong kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế, phản ánh sự tham gia tích cực của giảng viên Học viện tại các diễn đàn học thuật quốc tế. Các nghiên cứu tập trung vào những chủ đề như căng thẳng học tập của sinh viên Việt Nam, phát triển kinh tế bền vững, sức khỏe tâm lý của nữ sinh vừa học vừa làm, hạnh phúc của nữ sinh viên và các phương pháp thống kê trong thiết kế hệ thống điều khiển.
Đặc biệt, đội ngũ giảng viên Học viện còn tham gia 08 sách và chương sách quốc tế do các nhà xuất bản uy tín như Springer Nature, Springer, IGI Global, Emerald Publishing và Apple Academic Press – CRC Press Taylor & Francis Group phát hành. Tiêu biểu có cuốn “Social Work in Asia” với sự tham gia của TS. Lê Thị Kim Dung; chương sách “Protecting Children’s Rights in International Trade Disputes: Legal Approaches to Intellectual Property-Infringing Products in Vietnam” của TS. Huỳnh Thị Ngọc Diễm; chương sách “Trends in the development of tourism associated with indigenous culture” trong cuốn Economics and Tourism của TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy; cùng nhiều đầu sách quốc tế của TS. Phạm Thị Hạnh về an ninh mạng, du lịch bền vững, phục hồi hệ sinh thái và giao thoa giữa trí tuệ nhân tạo với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Một điểm đáng ghi nhận trong các công bố năm nay là tinh thần hợp tác nghiên cứu ngày càng được mở rộng. Nhiều công trình được thực hiện với sự tham gia của các nhà khoa học đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức quốc tế, tạo điều kiện để giảng viên Học viện tiếp cận các phương pháp nghiên cứu hiện đại, nâng cao chất lượng học thuật và tăng khả năng lan tỏa của các kết quả nghiên cứu.
Những kết quả đạt được trong năm học 2025–2026 là minh chứng cho sự nỗ lực, tâm huyết và tinh thần đổi mới sáng tạo của đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên Học viện Phụ nữ Việt Nam. Mỗi công trình được công bố không chỉ là kết quả của quá trình lao động khoa học nghiêm túc mà còn góp phần làm giàu nguồn tri thức phục vụ đào tạo, nghiên cứu và tư vấn chính sách, đồng thời khẳng định định hướng phát triển nghiên cứu khoa học gắn với hội nhập quốc tế của Học viện. Đây sẽ tiếp tục là nền tảng quan trọng để Học viện phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, mở rộng hợp tác quốc tế và nâng cao chất lượng đào tạo trong những năm tiếp theo.
English