Nếu các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần thường bắt đầu từ việc xác định những biểu hiện lo âu, trầm cảm, căng thẳng, kiệt sức hoặc tổn thương tâm lý, thì một nhóm bài viết gửi tới Hội thảo đã tiến thêm một bước khi tập trung vào các phương pháp can thiệp và hệ thống hỗ trợ.

Đa dạng phương pháp, đa dạng nhóm đối tượng

Trong lĩnh vực trị liệu, Trịnh Thanh Hương nghiên cứu “Thực trạng thực hành liệu pháp nhận thức (CTRS) trong điều trị trầm cảm tại Viện Sức khỏe Tâm thần”. Nghiên cứu này tiếp cận trực tiếp thực hành điều trị, qua đó đặt vấn đề về việc sử dụng các phương pháp trị liệu trong chăm sóc sức khỏe tâm thần.

Phạm Quỳnh Trang và Lê Minh Quân nghiên cứu “Ứng dụng can thiệp CBT kết hợp chánh niệm trong điều trị rối loạn lo âu bệnh tật ở phụ nữ làm việc từ xa: Minh họa qua nghiên cứu trường hợp”. Trong khi đó, Nguyễn Như Mạnh nghiên cứu “Trị liệu tâm lý trực tuyến: Nghiên cứu trường hợp nữ giới trầm cảm”.

Các nghiên cứu trên phản ánh sự đa dạng của phương pháp và bối cảnh can thiệp. Đối tượng không chỉ được hỗ trợ trong cơ sở chuyên môn mà các hình thức trị liệu trực tuyến, kết hợp công nghệ cũng bắt đầu được nghiên cứu như một khả năng bổ sung cho các phương thức hỗ trợ truyền thống.

Với trẻ em, Bàn Thị An tổng quan các phương pháp trị liệu tâm lý dựa trên bằng chứng cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ. Hoàng Đình Minh Châu, Lê Nguyễn Uyên Thư và Lê Huỳnh Việt Trân nghiên cứu can thiệp dựa trên phân tích hành vi ứng dụng cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ tại một cơ sở chuyên môn.

Những nghiên cứu này cho thấy can thiệp sức khỏe tâm thần ngày càng đòi hỏi sự phù hợp với đặc điểm từng nhóm đối tượng, thay vì một mô hình chung cho mọi trường hợp.

Công nghệ mở rộng khả năng tiếp cận hỗ trợ

Một hướng nghiên cứu đáng chú ý là ứng dụng công nghệ để mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ. Phạm Thanh Bình và Nguyễn Phương Hiền nghiên cứu “Mô hình tích hợp can thiệp tâm lý từ xa cho phụ nữ và trẻ em trong bối cảnh thế giới số”. Hoàng Văn Tâm nghiên cứu “Mô hình lồng ghép hỗ trợ tâm lý và phục hồi chức năng từ xa cho trẻ bại não”. Nguyễn Hồi Loan và Nguyễn Trần Bảo Trinh tiếp cận công nghệ từ một nhóm trẻ có nguy cơ tổn thương cao qua nghiên cứu “Ứng dụng công nghệ số trong hỗ trợ phục hồi sau sang chấn tâm lý cho trẻ vị thành niên bị xâm hại tình dục”.

Những nghiên cứu này gợi mở khả năng đưa dịch vụ hỗ trợ đến gần hơn với người có nhu cầu, đặc biệt trong những trường hợp khoảng cách địa lý, điều kiện đi lại hoặc những rào cản khác khiến việc tiếp cận dịch vụ trực tiếp gặp khó khăn.

Tuy nhiên, công nghệ cũng đặt ra những yêu cầu mới về chất lượng dịch vụ và đạo đức nghề nghiệp. Nguyễn Thị Ánh Ngọc nghiên cứu “Dịch vụ hỗ trợ tâm lý trên nền tảng số: Tiềm năng hỗ trợ, rủi ro đạo đức và khoảng trống quản lý”. Ở góc độ người sử dụng, Phạm Thị Hải Yến nghiên cứu nhận thức của sinh viên đại học về lợi ích và rủi ro của AI trong hỗ trợ sức khỏe tâm thần.

Những nghiên cứu này cho thấy ứng dụng công nghệ không thể chỉ được đánh giá bằng khả năng cung cấp dịch vụ nhanh và thuận tiện. Vấn đề bảo mật, đạo đức, chất lượng chuyên môn, trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ và khả năng nhận diện những trường hợp cần can thiệp trực tiếp cũng cần được đặt ra.

Từ cá nhân đến gia đình, nhà trường và cộng đồng

Một hướng tiếp cận khác trong các bài viết là phát triển hệ thống hỗ trợ nhiều tầng. Nguyễn Hữu Long, Nguyễn Văn Thật và Nguyễn Cang Đảm đề xuất hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh đặc biệt ở trường học nhằm nâng cao sức khỏe tâm thần. Phạm Văn Sỹ, Trương Thái Thanh Hà, Nguyễn Võ Hoa Như và Trần Thiên Gia Phước nghiên cứu tích hợp giáo dục cảm xúc xã hội vào tham vấn nhóm nhằm hỗ trợ điều chỉnh cảm xúc cho học sinh trung học cơ sở. 

Lê Thị Minh Tâm, Trần Công Bình và Đinh Phương Duy đề xuất huy động mạng lưới “gatekeeper” đa tầng trong can thiệp khủng hoảng tự hại ở trẻ vị thành niên. Đây là cách tiếp cận nhấn mạnh vai trò của nhiều lực lượng trong nhận diện và hỗ trợ sớm, thay vì chờ đến khi vấn đề trở nên nghiêm trọng mới tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn.

Một số nghiên cứu tiếp tục mở rộng tới phương diện pháp luật và chính sách. Trịnh Thị Yến nghiên cứu “Tổn thương thứ cấp đối với trẻ em là bị hại trong tố tụng hình sự: Chuẩn mực quốc tế và hàm ý hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam”. Vũ Thị Ngọc nghiên cứu “Bảo vệ quyền trẻ em trước hành vi thương mại hóa hình ảnh trên môi trường số: Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam”.

Trần Cẩm Vân đề cập tới rủi ro tâm lý – xã hội của lao động nữ làm việc qua nền tảng số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Hoàng Thị Hải Yến nghiên cứu chính sách thuế như một công cụ thúc đẩy tiếp cận công bằng các dịch vụ sức khỏe tâm thần cho phụ nữ và trẻ em.

Những nghiên cứu này cho thấy chăm sóc sức khỏe tâm thần không thể tách rời khỏi môi trường pháp lý, chính sách xã hội và khả năng tiếp cận dịch vụ. Khi các nhóm dễ bị tổn thương phải đối diện với những nguy cơ mới, hệ thống hỗ trợ cũng cần thay đổi để đáp ứng.

Từ nghiên cứu tới thực hành

Một điểm đáng chú ý của các bài viết là sự tham gia của nhiều nhóm tác giả đến từ các trường đại học, bệnh viện, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục, tổ chức nghề nghiệp và đơn vị thực hành. Danh sách bài viết có sự hiện diện của các lĩnh vực tâm lý học, y tế, giáo dục, công tác xã hội, luật và nghiên cứu xã hội. Điều này tạo nên tính liên ngành rõ nét cho kỷ yếu.

Đặc biệt, nhiều nghiên cứu xuất phát từ những trường hợp và bối cảnh cụ thể: trẻ bại não, trẻ rối loạn phổ tự kỷ, trẻ bị xâm hại, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ trầm cảm, phụ nữ làm việc từ xa, nữ công chức, nữ giáo viên hay lao động nữ trên nền tảng số. Từ những trường hợp cụ thể đó, các tác giả đặt ra những câu hỏi có ý nghĩa rộng hơn về phương pháp hỗ trợ và tổ chức dịch vụ.

Đây chính là điểm mà một Hội thảo khoa học liên ngành có thể tạo ra giá trị: đưa các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm thực hành vào cùng một không gian đối thoại với sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên, nhà nghiên cứu và người làm công tác thực hành nhằm tăng cường trao đổi giữa nghiên cứu, đào tạo và thực hành.

Từ 85 bài viết đóng góp cho hội thảo bằng tiếng Việt, có thể nhận thấy một hướng chuyển đáng chú ý trong nghiên cứu sức khỏe tâm thần: không chỉ nhận diện vấn đề mà từng bước tìm kiếm cách thức phòng ngừa, phát hiện sớm, can thiệp và phục hồi. Các giải pháp cũng không chỉ nằm ở phòng tham vấn hay cơ sở điều trị mà được mở rộng tới gia đình, trường học, cộng đồng, nền tảng số và hệ thống chính sách.

Trong bối cảnh những nguy cơ đối với sức khỏe tâm thần ngày càng đa dạng, cách tiếp cận này có ý nghĩa thiết thực. Bảo vệ sức khỏe tâm thần không bắt đầu từ thời điểm khủng hoảng xảy ra mà cần được chuẩn bị từ môi trường sống, năng lực của cá nhân và gia đình, khả năng hỗ trợ của nhà trường, cộng đồng và hệ thống dịch vụ.

Hội thảo Khoa học Quốc tế “Sức khỏe tâm thần của phụ nữ và trẻ em trong bối cảnh thế giới số và rủi ro khủng hoảng tâm lý” được Học viện Phụ nữ Việt Nam phối hợp cùng Hội Tâm lý trị liệu Việt Nam và Doanh nghiệp xã hội Tâm Nhung tổ chức vào ngày 30.10.2026.

Ban Tổ chức mong nhận được sự tham gia và đồng hành của các nhà khoa học, chuyên gia và nhà nghiên cứu để cùng xây dựng một diễn đàn học thuật chất lượng, góp phần thúc đẩy các nghiên cứu và giải pháp vì sức khỏe tâm thần của phụ nữ và trẻ em trong bối cảnh thế giới số và những biến động toàn cầu hiện nay.

Thông tin liên hệ
PGS.TS. Trần Thị Mỵ Lương – SĐT: 0911 128 579 | Email: LuongTTM@vwa.edu.vn
TS. Đào Lan Hương – SĐT: 0919 614 006 | Email: Huongdl@hvpnvn.edu.vn