Từ mạng xã hội, AI đến những áp lực mới trong đời sống số
Một trong những mạch nghiên cứu nổi bật trong các bài viết gửi tới Hội thảo là những tác động ngày càng rõ của Internet, mạng xã hội và công nghệ số đối với đời sống tâm lý của phụ nữ, trẻ em và thanh thiếu niên.
Nếu Internet và mạng xã hội mở rộng khả năng kết nối, học tập, làm việc và tiếp cận thông tin, thì chính môi trường này cũng tạo ra những dạng áp lực tâm lý mới. Những vấn đề như nghiện mạng xã hội, sợ bỏ lỡ, phụ thuộc vào sự ghi nhận của người khác, hình ảnh cơ thể, cô đơn hay khó khăn trong việc tìm kiếm hỗ trợ tâm lý xuất hiện trong nhiều nghiên cứu với những nhóm đối tượng khác nhau.

Nghiên cứu “Mối liên hệ giữa mức độ nghiện TikTok và lo âu học đường ở học sinh trung học phổ thông” của Lê Minh Tuấn và Nguyễn Thị Nhân Ái tiếp cận một biểu hiện khá điển hình của đời sống số ở lứa tuổi học sinh. Trong khi đó, Phùng Thị Hiên nghiên cứu mối liên hệ giữa thời lượng sử dụng mạng xã hội với cảm nhận cô đơn và thái độ đối với việc ở một mình ở học sinh trung học phổ thông.
Ở nhóm sinh viên nữ, Nguyễn Thị Mai, Bùi Khánh Dương và Nguyễn Thị Phương tập trung vào mối quan hệ giữa mù cảm xúc, cô đơn và nghiện mạng xã hội. Trần Phúc Khang và Phạm Văn Giào nghiên cứu mức độ tích hợp mạng xã hội, nỗi sợ bị bỏ lỡ và các triệu chứng khó khăn tâm lý ở nữ sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh. Những nghiên cứu này cho thấy môi trường số không chỉ tác động đến thời gian sử dụng thiết bị mà còn liên quan đến cách người trẻ nhìn nhận bản thân, xây dựng các mối quan hệ và điều chỉnh cảm xúc.
Một hướng nghiên cứu khác đi sâu vào vấn đề hình ảnh bản thân và sự ghi nhận xã hội. Trần Thị Thu Hằng nghiên cứu thực trạng hình ảnh bản thân trên môi trường số của nữ sinh viên tại một số cơ sở giáo dục đại học ở Hà Nội; Lê Ngọc Phương Thảo và Nguyễn Bảo Nhân đề cập đến hiện tượng tự khách quan hóa cơ thể ở phụ nữ trong bối cảnh mạng xã hội. Ở góc độ khác, Vũ Quốc Trung, Quách Duy Khánh và Vũ Xuân Anh nghiên cứu sự phụ thuộc vào sự ghi nhận của người khác ở sinh viên nữ.
Cùng với mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo đang mở thêm một lớp vấn đề mới. Phạm Thị Hải Yến nghiên cứu nhận thức của sinh viên đại học về lợi ích và rủi ro của AI trong hỗ trợ sức khỏe tâm thần. Đặng Hoàng Phúc và Phan Thị Hoài Yến đặt vấn đề về sự phụ thuộc cảm xúc vào chatbot AI tạo sinh ở thanh thiếu niên. Nguyễn Thị Ánh Ngọc nghiên cứu dịch vụ hỗ trợ tâm lý trên nền tảng số, đồng thời lưu ý đến tiềm năng hỗ trợ, những rủi ro đạo đức và khoảng trống quản lý.
Đáng chú ý, hướng tiếp cận công nghệ không chỉ dừng ở việc nhận diện rủi ro. Một số nghiên cứu đặt vấn đề về khả năng sử dụng công nghệ như một công cụ hỗ trợ. Hồ Nhật Nam nghiên cứu nền tảng số ẩn danh có kiểm duyệt trong chăm sóc sức khỏe tâm thần phụ nữ; Thái Đình Lãm tìm hiểu mối liên hệ giữa năng lực tài chính số và sức khỏe tâm thần tích cực của phụ nữ trẻ trong bối cảnh kinh tế số. Trần Thanh Thủy đề cập giáo dục an toàn số nhằm bảo vệ sức khỏe tâm thần cho sinh viên nữ tại Học viện Phụ nữ Việt Nam.
Như vậy, cùng một môi trường số, các nghiên cứu đã nhìn thấy cả hai mặt: những nguy cơ cần phòng ngừa và những khả năng có thể khai thác để hỗ trợ sức khỏe tâm thần.

Phụ nữ trong nhiều vai trò: từ gia đình, công việc đến quá trình thích ứng
Một mạch nghiên cứu quan trọng khác tập trung vào sức khỏe tâm thần của phụ nữ trong những giai đoạn và bối cảnh khác nhau của cuộc sống. Điểm đáng chú ý là các nghiên cứu không xem phụ nữ như một nhóm đồng nhất mà tiếp cận từ nhiều vai trò: người mẹ, người chăm sóc, người lao động, giáo viên, công chức, nữ sinh viên, phụ nữ cao tuổi hay lao động trên nền tảng số.

Nguyễn Thị Nguyệt nghiên cứu an sinh xã hội và chính sách hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho phụ nữ đô thị sau sinh trong bối cảnh chuyển đổi số. Đoàn Thị Hạnh xem xét mối liên hệ giữa tiến bộ chức năng của trẻ bại não và căng thẳng tâm lý của người mẹ. Lê Thị Tố Như đề cập “tổn thương kép” ở người mẹ nuôi con có rối loạn phát triển thần kinh, trong khi Nguyễn Thị Minh Thúy nghiên cứu tình trạng quá tải thông tin ở các bà mẹ có con rối loạn phổ tự kỷ.
Những nghiên cứu này gợi ra một vấn đề: sức khỏe tâm thần của phụ nữ nhiều khi không thể tách khỏi những trách nhiệm chăm sóc và các điều kiện xã hội xung quanh họ. Khi một người mẹ phải đồng thời đảm nhiệm vai trò chăm sóc con, duy trì công việc và thích ứng với những yêu cầu mới của đời sống số, áp lực có thể xuất hiện ở nhiều tầng khác nhau.
Trong môi trường nghề nghiệp, vấn đề sức khỏe tâm thần cũng được tiếp cận từ yêu cầu công việc, nguồn lực hỗ trợ và điều kiện làm việc. Nguyễn Thị Hương và Vương Quốc Luân nghiên cứu mối liên hệ giữa yêu cầu công việc, nguồn lực hỗ trợ với mức độ gắn kết và kiệt sức của lao động nữ trong môi trường văn phòng số tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Nội. Trần Thị Mỵ Lương nghiên cứu sức khỏe tâm thần của nữ giáo viên và một số yếu tố liên quan. Nguyễn Phi Long tiếp cận sức khỏe tâm thần của nữ công chức cấp xã trong bối cảnh chuyển đổi số từ góc nhìn quản trị công và hàm ý chính sách.
Các nghiên cứu khác mở rộng đối tượng tới nữ cán bộ công an cấp cơ sở, nữ giáo viên mầm non, nữ công nhân tại các khu công nghiệp hay lao động nữ làm việc qua nền tảng số. Đỗ Thị Lệ Mỹ và Nguyễn Tài Thọ nghiên cứu sức khỏe tâm thần của nữ cán bộ Công an nhân dân cấp cơ sở dưới áp lực số hóa công tác hành chính; Phạm Minh Thu xem xét khả năng dự báo của các nguồn lực tâm lý đối với sự an lạc của nữ công nhân tại các khu công nghiệp ở Hà Nội; Trần Cẩm Vân nghiên cứu rủi ro tâm lý – xã hội của lao động nữ làm việc qua nền tảng số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật.
Từ những góc nhìn khác nhau, các nghiên cứu cho thấy sức khỏe tâm thần của phụ nữ có quan hệ chặt chẽ với môi trường sống, điều kiện lao động, trách nhiệm gia đình, vị trí xã hội và khả năng tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ. Đây cũng là cơ sở để câu chuyện sức khỏe tâm thần được nhìn rộng hơn phạm vi của từng cá nhân, hướng tới các chính sách và môi trường xã hội phù hợp.
Trẻ em, thanh thiếu niên và môi trường học đường: nhận diện sớm những nguy cơ
Nếu phụ nữ được tiếp cận qua nhiều vai trò và giai đoạn cuộc sống, nhóm trẻ em và thanh thiếu niên trong các nghiên cứu lại nổi bật với những vấn đề liên quan đến quá trình phát triển, gia đình, nhà trường và môi trường số.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hạnh về sử dụng Internet có vấn đề ở học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội; nghiên cứu của Phan Thị Nhật Tuyền, Phan Thị Cẩm Giang và Nguyễn Duy Thu Nguyệt về hành vi nguy cơ trực tuyến và sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên; hay nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Bích Thủy, Nguyễn Thị Mai Anh và Nguyễn Thị Yến về mức độ sử dụng và lệ thuộc game trực tuyến ở trẻ em đều cho thấy những thách thức đang xuất hiện trong đời sống của thế hệ trẻ.
Đáng chú ý, các nghiên cứu không chỉ tập trung vào những hành vi có nguy cơ mà còn tìm kiếm các yếu tố bảo vệ. Võ Phú Toàn nghiên cứu vai trò dự báo của bầu không khí học đường đối với sự khỏe mạnh toàn diện và mức độ đau khổ tâm lý của học sinh trung học phổ thông. Phan Thị Hương Thắm và Võ Phú Toàn nghiên cứu chất lượng mối quan hệ bạn bè của học sinh trung học cơ sở. Nguyễn Thị Trâm Anh, Lê Thị Ngọc Lan và Nguyễn Gia Bảo nghiên cứu thực trạng gắn kết gia đình và sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông tại Đà Nẵng.
Gia đình cũng xuất hiện như một yếu tố quan trọng trong nhiều nghiên cứu. Vũ Thị Duyên, Trần Lê Phương Vy và Văn Kim Trung nghiên cứu vai trò của gia đình trong bảo vệ sức khỏe tâm thần trẻ em trước tác động của thế giới số. Trần Thị Cẩm Nhung tiếp cận mối liên hệ giữa di cư lao động của cha mẹ và sức khỏe tâm thần của trẻ. Với những trẻ em sống trong hoàn cảnh đặc biệt, câu chuyện sức khỏe tâm thần càng trở nên phức tạp hơn.
Nhiều nghiên cứu đi sâu vào những nhóm có nguy cơ hoặc hoàn cảnh đặc thù như trẻ có nhu cầu đặc biệt, trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ, trẻ bại não, trẻ mồ côi hay trẻ vị thành niên sống trong môi trường bạo lực gia đình. Vũ Thị Duyên cùng các cộng sự nghiên cứu ảnh hưởng của bạo lực trực tuyến đến sức khỏe tâm thần trẻ em có nhu cầu đặc biệt và tình trạng kiệt sức chăm sóc ở người thân. Trần Thị Hoa nghiên cứu khả năng phục hồi sức khỏe tâm thần của trẻ mồ côi tại Làng trẻ em SOS Thái Bình.
Từ đó, môi trường học đường và gia đình được đặt trong mối quan hệ với nhau. Các nghiên cứu về lòng biết ơn, kỹ năng giải quyết vấn đề xã hội, điều chỉnh cảm xúc, giáo dục cảm xúc – xã hội và quan hệ bạn bè cho thấy việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ không chỉ bắt đầu khi xuất hiện một rối loạn mà còn có thể được thực hiện thông qua giáo dục kỹ năng và xây dựng môi trường phát triển lành mạnh.
Từ nhận diện nguy cơ đến những mô hình hỗ trợ cụ thể
Điểm đáng chú ý trong hệ thống các bài viết gửi tới Hội thảo là sự chuyển dịch từ câu hỏi “vấn đề nằm ở đâu?” sang câu hỏi “có thể hỗ trợ như thế nào?”. Đây là mạch nghiên cứu kết nối khá rõ giữa khoa học và thực hành.
Trong lĩnh vực trị liệu, Trịnh Thanh Hương nghiên cứu thực hành liệu pháp nhận thức trong điều trị trầm cảm tại Viện Sức khỏe tâm thần. Phạm Quỳnh Trang và Lê Minh Quân nghiên cứu ứng dụng can thiệp CBT kết hợp chánh niệm trong điều trị rối loạn lo âu bệnh tật ở phụ nữ làm việc từ xa. Nguyễn Như Mạnh nghiên cứu trường hợp trị liệu tâm lý trực tuyến đối với nữ giới trầm cảm.
Đối với trẻ có rối loạn phát triển, Bàn Thị An tổng quan các phương pháp trị liệu tâm lý dựa trên bằng chứng cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ; Hoàng Đình Minh Châu, Lê Nguyễn Uyên Thư và Lê Huỳnh Việt Trân nghiên cứu can thiệp dựa trên phân tích hành vi ứng dụng cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ. Hoàng Văn Tâm nghiên cứu mô hình lồng ghép can thiệp tâm lý và phục hồi chức năng từ xa cho trẻ bại não.
Vì thế, công nghệ tiếp tục xuất hiện, nhưng với một vai trò khác: mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ. Tác giả Phạm Thanh Bình và Nguyễn Phương Hiền nghiên cứu mô hình tích hợp can thiệp tâm lý từ xa cho phụ nữ và trẻ em tại phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Tác giả Nguyễn Hồi Loan và Nguyễn Trần Bảo Trinh nghiên cứu ứng dụng công nghệ số trong hỗ trợ phục hồi sau sang chấn tâm lý cho trẻ vị thành niên bị xâm hại tình dục.
Ở cấp độ nhà trường và cộng đồng, các mô hình hỗ trợ cũng được đề xuất theo hướng nhiều tầng. Tác giả Nguyễn Hữu Long, Nguyễn Văn Thật và Nguyễn Cang Đảm đề xuất hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh đặc biệt tại trường học. Phạm Văn Sỹ, Trương Thái Thanh Hà, Nguyễn Võ Hoa Như và Trần Thiên Gia Phước nghiên cứu tích hợp giáo dục cảm xúc xã hội vào tham vấn nhóm nhằm hỗ trợ điều chỉnh cảm xúc cho học sinh trung học cơ sở. Trần Hằng Ly cùng các cộng sự đề xuất mô hình CIPO ba cấp độ hỗ trợ sức khỏe tâm thần học sinh.
Đặc biệt, vấn đề khủng hoảng tâm lý và tự hại được tiếp cận từ yêu cầu phối hợp nhiều lực lượng. Lê Thị Minh Tâm, Trần Công Bình và Đinh Phương Duy đề xuất huy động mạng lưới “gatekeeper” đa tầng trong can thiệp khủng hoảng tự hại ở trẻ vị thành niên thông qua mô hình giám sát lâm sàng từ xa.
Nhìn tổng thể, 85 bài viết gửi tới Hội thảo không tạo thành một bức tranh đơn tuyến về sức khỏe tâm thần. Các nghiên cứu đi từ cá nhân đến gia đình, nhà trường, nơi làm việc và cộng đồng; từ nhận diện nguy cơ đến tìm kiếm yếu tố bảo vệ; từ nghiên cứu thực trạng đến thử nghiệm hoặc đề xuất mô hình can thiệp.

Đây cũng là giá trị đáng chú ý của một diễn đàn khoa học có sự tham gia của các nhà nghiên cứu, giảng viên, chuyên gia và người làm công tác thực hành thuộc nhiều lĩnh vực. Những vấn đề về sức khỏe tâm thần vốn không chỉ thuộc riêng tâm lý học hay y tế, mà còn liên quan đến giáo dục, công tác xã hội, quản lý, pháp luật, chính sách xã hội và công nghệ.
Tổ chức hội thảo khoa học quốc tế “Sức khỏe tâm thần của phụ nữ và trẻ em trong bối cảnh thế giới số và rủi ro khủng hoảng tâm lý”, Học viện Phụ nữ Việt Nam và các đơn vị phối hợp mong muốn tạo một không gian để các hướng nghiên cứu khác nhau cùng tập trung giải quyết, hỗ trợ một vấn đề được đặt ra. Từ những nghiên cứu về TikTok, AI, mạng xã hội, hình ảnh cơ thể, sức khỏe số đến các vấn đề về gia đình, nghề nghiệp, trường học, rối loạn phát triển, tự hại và trị liệu tâm lý, các bài viết cùng đặt ra một yêu cầu chung: sức khỏe tâm thần cần được quan tâm từ sớm, được nhìn nhận trong chính bối cảnh đời sống của mỗi nhóm đối tượng và được hỗ trợ bằng những giải pháp phù hợp.
Đó cũng là cơ sở để kết nối nghiên cứu với đào tạo và thực hành, đồng thời mở rộng trao đổi giữa các nhà khoa học, chuyên gia và những người trực tiếp tham gia chăm sóc, hỗ trợ sức khỏe tâm thần. Trong bối cảnh môi trường sống tiếp tục thay đổi dưới tác động của công nghệ và những biến động xã hội, việc tạo dựng một diễn đàn khoa học để chia sẻ bằng chứng, kinh nghiệm và các mô hình hỗ trợ càng có ý nghĩa đối với phụ nữ, trẻ em, thanh thiếu niên và cộng đồng.
Hội thảo Khoa học Quốc tế “Sức khỏe tâm thần của phụ nữ và trẻ em trong bối cảnh thế giới số và rủi ro khủng hoảng tâm lý” được Học viện Phụ nữ Việt Nam phối hợp cùng Hội Tâm lý trị liệu Việt Nam và Doanh nghiệp xã hội Tâm Nhung tổ chức vào ngày 30.10.2026.
Ban Tổ chức mong nhận được sự tham gia và đồng hành của các nhà khoa học, chuyên gia và nhà nghiên cứu để cùng xây dựng một diễn đàn học thuật chất lượng, góp phần thúc đẩy các nghiên cứu và giải pháp vì sức khỏe tâm thần của phụ nữ và trẻ em trong bối cảnh thế giới số và những biến động toàn cầu hiện nay.

Thông tin liên hệ
PGS.TS. Trần Thị Mỵ Lương – SĐT: 0911 128 579 | Email: LuongTTM@vwa.edu.vn
TS. Đào Lan Hương – SĐT: 0919 614 006 | Email: Huongdl@hvpnvn.edu.vn
English
